Wednesday, May 15, 2013

Ngài đi vào địa ngục

Bài này được dịch từ The Descent Into Hell của Cha Ronald Rolheiser, OMI. (Trang web có một số bài tiếng Việt đã được dịch)

 Một vài năm trước, tôi biết một phụ nữ trẻ đã toan tự tử. Cô ấy 23 tuổi, sống xa gia đình. Gia đình cô trong nỗi sợ hãi, lo lắng vội vàng đến để có mặt với cô. Rồi họ đưa cô ấy trở về nhà và cố gắng để cung cấp cho cô sự chăm sóc của y tế và tâm thần đầy đủ nhất, tốt nhất mà họ có thể tìm được, và quan trọng nhất là mọi người đã bên cạnh cô để ủng hộ cô, cố gắng bằng mọi cách để đem cô ra khỏi sự trầm cảm tự tử.

 Họ đã không thành công. Hai tháng sau, cô ta đã tự tử. Cô ta đi đến một nơi mà không một tình thương nhân loại, thuốc thang hay nhà trị liệu tâm thần nào có thể xâm nhập, một địa ngục riêng tư vượt quá tầm với của loài người.

Có niềm hy vọng nào trong tình cảnh như thế này được?

Với cái nhìn của con người thì chẳng có hy vọng nào cả. Ngoài vòng tác động của đức tin, cô ấy ở bên ngoài khả năng của chúng ta và chúng ta bất lực khi cố gắng để giúp cô. Nhưng, với đức tin có hy vọng, một niềm hy vọng lạ lùng.

Có một tín điều trong đức tin của chúng ta và đối với sự hiểu biết của tôi, là một niềm tin an ủi riêng biệt nhất trong mọi tôn giáo, đó  là niềm tin rằng Đức Kitô đã đi xuống địa ngục (descended into hell như trong Kinh Tin Kính của tiếng Anh).

Một phiên bản của Kinh Tin Kính cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su “đã đi xuống hỏa ngục”; điều này có nghĩa là gì?
Chúng ta không chắc chắn được. Có những truyền thống khác nhau giải thích về ý nghĩa của cụm từ đó: trong một phiên bản, có lẽ phổ biến nhất cho biết đó là tội lỗi của Adam và Evà đã đóng những cánh cửa thiên đàng và chúng đã bị niêm phong cho đến khi Chúa Giêsu chịu chết. Cuộc tử nạn của Chúa Giê-su đã mở các cánh cửa thiên đàng và chính Người, trong thời gian giữa cái chết và sự phục sinh đã xuống địa ngục (Sheol, phần Dưới Thế) nơi mà các linh hồn của những người đã chết từ thời Adam cách nào đó, nghỉ ngơi. Chúa Giê-su đã mang tất cả họ lên thiên đàng. Cuộc “đi xuống địa ngục” trong phiên bản này về niềm tin, đề cập đến việc Người xuống dưới thế sau cái chết để giải cứu những linh hồn.

Nhưng lại có một sự hiểu biết khác về Chúa Giêsu [đi xuống địa ngục]. Cách giải nghĩa này gợi ý rằng Chúa Giêsu đi xuống địa ngục nêu lên đặc biệt về cách Người chịu chết, về sự sâu thẳm của hỗn loạn và tối tăm mà Ngài đã phải chịu đựng nơi ấy, và tình yêu, lòng tin cậy và sự tha thứ vô tận Ngài đã tỏ lộ trong nơi tối tăm tuyên bố một tình yêu mà có thể xâm nhập vào bất cứ địa ngục nào mà có thể được hình thành. Cách giải nghĩa này khá trừu tượng nên cho phép tôi đưa ra một ví dụ mình họa:

Trong Nhà Thờ Thánh Phaolô ở Anh, có một bức tranh nổi tiếng của Holman Hunt đã linh hứng nhiều vô số những mô phỏng ít giá trị hơn. Đó là một bức tranh mô tả Chúa Giêsu ở bên ngoài cánh cửa với cây đèn lồng, và bức tranh gợi ý rằng chúng ta,  những người ở bên trong cánh cửa đó, phải mở cửa để Chúa Giêsu đi vào, nếu không Người sẽ đứng đợi ngoài cửa. Trong những sự mô phỏng của bức tranh này, các nghệ sĩ còn đi xa hơn nữa, cụ thể là, họ đã đặt tay khóa mở cửa bên trong cánh cửa, nhưng bên ngoài cánh cửa thì không có gì cả, gợi ý rằng Chúa Giêsu không thể đi vào cuộc sống của chúng ta nếu chúng ta không mở cánh cửa cho phép Người vào.

Tôi còn nhớ khi còn là bé trai nhỏ, tôi nhìn thấy bức tranh này trên một ảnh thánh kẹp sách và nó làm tôi bị ám ảnh, sợ chính điều rằng một ngày nào đó, tôi có thể bị tổn thương, trầm cảm, hoặc bị tê liệt để mở cánh cửa đó cho Chúa đi vào.

Nhưng mạnh mẽ như bức tranh này, Phúc Âm đi ngược lại với ngụ ý của nó. Cách nào?

Thánh Gioan, trong Tin Mừng của Ngài, tô bày hình ảnh này cho chúng ta: ngày Chúa Giêsu chỗi dậy từ cõi chết, Người thấy các môn đệ vì sợ hãi đã tụ tập với nhau trong căn phòng khóa kín. Chúa Giêsu, không như những mô phỏng của bức tranh tuyệt diệu của Holman Hunt, không đứng bên ngoài cánh cửa để gõ, chờ các môn đệ đến và mở cửa. Người đi qua ngay cả các cánh cửa, đi vào đứng giữa vòng kín của các tông đồ đang sợ hãi và thổi hơi bình an trên họ. Người không bất lực để đi qua cánh cửa khi các môn đệ đều đang rất sợ hãi, thất vọng và quá đau đớn để mở cánh cửa cho Người. Người có thể đi vào chốn địa ngục của họ bằng cách đi qua những cánh cửa mà họ đã khóa lại vì sợ hãi.

Điều này cũng đúng đối với những hỏa ngục riêng tư của mỗi người nơi mà đôi khi chúng ta đi vào. Chúng ta có thể đi vào một thời điểm trong cuộc đời của mình nơi mà những người khác không còn có thể với tay để giúp đỡ chúng ta trong sự đau khổ của mình và nơi mà chúng ta bị quá ổn thương, quá sợ hãi và quá tê liệt để mở cửa cho bất cứ ai đi vào. Sự quan tâm của nhân loại không còn với đến tới chúng ta nữa. Nhưng Chúa Giêsu có thể đi vào những cánh cửa đã bị khóa, Người có thể đi vào tận địa ngục của chúng ta.

Tôi chắc chắn rằng khi người phụ nữ trẻ đã tự tử tôi đề cập đến lúc ban đầu, thức dậy ở thế giới bên kia, cô ấy thấy Chúa Giêsu đang đứng bên trong nỗi sợ và cơn bệnh của mình thở hơi ơn bình an, tình yêu và sự tha thứ, như Người đã làm trong bóng tối và sự hỗn loạn mà Người đã đi xuống trong cái chết của Người. Tôi cũng chắc chắn rằng cô ấy, một người phụ nữ nhạy cảm như cô, đã tìm thấy nơi sự ra lệnh của Ngài, hơi thở của ơn tha thứ, sự bình an mà cho rất nhiều lý do, đã từ chối cô trong đời này.

Niềm tin của chúng ta rằng Chúa Giêsu đã và có thể “đi xuống địa ngục” là điều an ủi đặc biệt nhất trong trọn vẹn tôn giáo. Điều đó đem hy vọng khi không có bất cứ hy vọng nào theo phương cách của loài người. Đôi khi, vì đau ốm và sự tổn thương, người mà chúng ta yêu dấu có thể đi xuống một nơi mà chúng ta, bất kể tình yêu thương và nỗ lực, không thể với tới. Nhưng không phải tất cả đều là thất vọng: Chúa Giêsu có thể đi xuống hỏa ngục đó và ngay cả trong nơi đó Người lại thổi hơi bình an mà lần nữa đem trật tự vào nơi hỗn loạn.

Thursday, March 28, 2013

Tình yêu sao đi xa quá vậy?

Tôi nhớ có một lần lên Facebook và có một người đặt câu hỏi tại sao Chúa Giêsu phải chết trên cây thánh giá.

Bài suy niệm của tôi không trực tiếp trả lời câu hỏi này nhưng hy vọng rằng sau bài suy niệm câu hỏi này sẽ đưa đến chỗ bạn bị ngạc nhiên vì tình yêu đi sao xa quá vậy? Và để bài suy niệm có ý nghĩa, chúng ta cần nhớ đến những lời Chúa Giêsu nói: “Thầy và Cha Thầy là một… Thầy ở đâu, Cha Thầy cũng ở đó…. Cha ở trong Con và Con ở trong Cha.”

Tôi không bao giờ đặt ra câu hỏi nhưng lòng thắc mắc mà không dám nói ra lời vì sợ mình phạm thượng với Chúa. Câu hỏi đó là: Thiên Chúa Cha Ngài ở đâu trong cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu?

Trong đời sống tâm linh, tôi cảm thấy gần gũi với Thiên Chúa Cha và cảm thấy Thiên Chúa Cha thích mình có lẽ vì người cha dưới đất của tôi tuy không hoàn hảo nhưng tỏ bày sự yêu thích của mình với tôi qua những hành vi rất bình thường. Chẳng hạn như khi tôi lớp 3 hát ngang như cua thế mà cứ rống và anh chị cả chịu không nỗi phải nói “Mày hát ngang như cua bò. Câm miệng là vừa.” Bố ra tiếng bảo vệ “Cứ để cho em nó hát. Nó hát cho vui nhà vui cửa.” Thế là tôi cứ thản nhiên ngồi hát mà không phải bận tâm về mình.

Thiên Chúa Cha yêu thương loài người Ngài đã dựng nên và Ngài không chỉ ngồi đó mà yêu…. Ngài tích cực lo lắng cho tôi đến cả mọi sợi tóc trên đầu Ngài đều đếm cả. Trái tim của Người Cha này thổn thức tìm cách để làm cho người con này của Ngài được có đủ phương tiện, cơm ăn, áo mặc, cơ hội để trưởng thành và để giống như Chúa Giêsu—sống cho người khác.

Thế thì Chúa Cha ở đâu trong cuộc khổ nạn?

Thiên Chúa Cha vô cùng ao ước để ban cho loài người Chúa Thánh Thần, tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa. Nhưng con người không có đủ sức để đón nhận Chúa Thánh Thần. Ngoài trừ khi con người được ban sức sống mới, ơn Chúa Thánh Thần sẽ làm họ chết tương tự như bạn nhìn thẳng vào mặt trời, mắt bạn sẽ bị hư. Nhưng Ngài sẽ làm gì?

Ngài sẽ gởi Chúa Con làm người để qua xác phàm, nhân loại được tái tạo.

Thiên Chúa Cha vô cùng vui sướng khi thấy Con Một của Ngài ước muốn đi đến “địa ngục” để cứu chúng ta. Để Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cùng đi vào những nơi tối tăm nhất của loài người với Chúa Con để cứu họ.

Trong vườn địa đàng loài người đã khước từ tình Cha của Thiên Chúa và chọn thằng quỷ sứ cai quản mình. Thiên Chúa đành bó tay khi con người không cho phép Ngài che chở, bao bọc, dưỡng nuôi họ. Và Ngài đã tìm mọi cách để mua lòng loài người để họ quay về với Ngài và để Ngài làm Chúa họ cách trọn vẹn. Ngài tìm được cách qua Người Con. Thiên Chúa sẽ làm người đi vào cảnh nô lệ như tất cả mọi đứa con hư hỏng Ngài đã dựng nên.

Trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh chúng ta tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu trên cây thánh giá mà mắt chúng ta có thể thấy. Và phim Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô của Mel Gibson giúp chúng ta nhìn thấy nó cách rõ ràng hơn. Bạn có bao giờ nghĩ “Nếu vậy, ngày thứ Bảy Chúa Giêsu làm gì?”

Câu hỏi này của tôi đã một phần được trả lời trong cuốn sách Eschatology của ĐTC Benedictô khi Ngài chưa là giáo hoàng.

“…[The Cross] teaches us that God himself suffered and died. Evil is not, then, something unreal for him…. Jesus descended into Sheol, in the night of the soul which he suffered, a night which no one can observe except by entering this darkness in suffering faith.” –Eschatology, page 217

“….[Cây thánh giá] dạy chúng ta rằng Thiên Chúa chịu đựng đau khổ và chết. Sự dữ, vì thế, không là một việc gì đó trửu trượng cho Ngài…. Chúa Giêsu đi xuống Sheol (ngục tổ tông), trong đêm đen của linh hồn, đêm mà Ngài chịu thương khó, đêm mà không ai có thể quan sát ngoại trừ đi vào bóng tối của đêm đen đức tin.”

Đêm đen này các thánh như Têrêsa Lisieux, Mẹ Têrêsa đã phải trải qua, đêm cực hình.

Hans Urs von Balthasar, một nhà thần học gia, diễn tả Chúa Giêsu sau khi chết trên cây thập tự đã đi xuống địa ngục và chịu khổ hình mà chúng ta đáng phải chịu.

We must not deny that Jesus gave Himself up into the depths of hell not only with many others but on their behalf, in their place.

“Chúng ta không thể từ chối rằng Chúa Giêsu đã tự dâng hiến thân mình trong những nơi sâu thẳm của địa ngục không phải cùng với những người khác, nhưng thay vì họ, thay cho họ.”

Và bài viết ở đây giải nghĩa từ địa ngục, từ gây nhiều thắc mắc của Von Balthasar:

For sin is brought inside the Son when he is literally made sin in Sheol; thus it is brought into the relationship between the Son and the Father; and thus it is finally brought into the love between them, the Holy Spirit. Despite the sin and wrath they experience, each divine person continues to give himself to the other two out of love. In this way, the trinitarian love engulfs sin, thereby destroying it. Christ's descent into hell is glorious because God's invincible (or “ever greater”) love is revealed in the very conditions that present the greatest resistance to it.

Bởi vì tội đã được đem vào trong người Con khi Ngài thực sự đã bị làm nên tội trong Sheol; vì thế, tội được đem vào tương quan giữa Con và Cha; và vì thế nó cuối cùng được mang vào trong tình yêu giữa Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Bất kể tội và sự phẫn nộ các Ngôi Vị trải qua, mỗi Ngôi Vị tiếp tục trao ban chính mình cho hai Ngôi Vị khác vì yêu. Qua cách này, tình yêu Ba Ngôi vùi lấp tội lỗi và vì thế tiêu diệt nó. Đức Kitô đi xuống địa ngục bởi vì tình yêu không gì có thể đánh bại được của Thiên Chúa (hay “ngay cả mạnh hơn”) được mặc khải ngay trong những trường hợp mà sự kháng cự mạnh mẽ nhất đối với tình yêu tỏ lộ bộ mặt của nó.

 


 

Thiên Chúa Cha đã cùng Thiên Chúa Con, qua Thiên Chúa Con và trong Thiên Chúa Con đi vào mọi góc nẻo của con người tội lỗi, để cùng có mùi như mùi của con chiên bất hạnh của mình, và cứu thoát mọi người không trừ ai.

Thiên Chúa đã đi xuống địa ngục để tìm con cái của Ngài và tái tạo dựng họ. Là thụ tạo mới, giờ đây con người có thể lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa.

Monday, September 3, 2012

Luật của Chúa được thi hành cách hoàn hảo trong tình yêu

Dịch từ VIS News

Luật của Chúa được thi hành cách hoàn hảo trong tình yêu là đề tài của ĐTC Benedictô XVI trong bài giảng trước khi đọc Kinh Truyền Tin ngày hôm nay (ngày 3 tháng 9 năm 2012).

Giải nghĩa về bài Phúc Âm của Thánh Máccô khi các người Pharisêu trách móc các môn đệ của Chúa Giêsu về việc các ông không thi hành luật Môsê, ĐTC nói Luật của Chúa “là Lời của Ngài hướng dẫn loài người trên đường đời, giải thoát họ khỏi sự nô lệ của ích kỷ và đưa họ vào “đất” của tự do đích thực và sự sống. Vì lý do này mà Luật trong Kinh Thánh không là gánh nặng,… nhưng là món quà quý giá nhất của Thiên Chúa,… là một biểu lộ của Thiên Chúa ao ước để được ở bên cạnh dân của Ngài và để là một Đồng Minh của họ.

Tuy nhiên khi người ta đến cư ngụ ở Đất Hứa và trở nên kho chứa đựng Giới Luật, họ bị cám dỗ “để đặt an toàn và hạnh phúc của họ vào điều không còn là Lời của Chúa nữa: trong của cải và quyền năng, những “thần thánh” khác mà thực ra, trống rỗng và những thần tượng vô ích. Dĩ nhiên, Luật của Chúa vẫn còn đó nhưng nó không còn quan trọng, không còn là quy tắc của cuộc sống; trái lại nó trở nên chỉ là mã ngoài, một sự che đậy, trong khi đó cuộc sống đi theo những lối khác, quy tắc khác, thường là con người ích kỷ và lợi tức của nhóm. Qua cách này, tôn giáo mất đi ý nghĩa chân thực…và bị giáng cấp để trở thành thói quen thứ yếu, thói quen thỏa mãn cái cần thiết của loài người là để cảm thấy họ đã làm điều phải trước mặt Chúa.

“Đây là một nguy cơ nghiêm trọng trong mọi tôn giáo, nguy cơ mà Chúa Giêsu đã gặp trong thời của Ngài và không may mắn cho lắm cũng có thể xảy ra trong Kitô Giáo. Vì thế, lời chống báng của Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay đối với các Kinh sư và Pharisêu phải làm chúng ta suy nghĩ. Chúa Giêsu nhắc lại lời của Isaia: ‘Dân này thờ ta bằng môi miệng mà lòng chúng xa ta; Nó sùng kính Ta cách giả dối, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân’. Trong thư của Thánh Tông Đồ Giacôbê cũng cảnh báo về nguy hiểm của đạo đức giả dối.”

Tuesday, August 28, 2012

ĐTC Benedictô: "Sự thiếu chân thành là dấu vết của ma quỷ"


PHÊRÔ ĐÃ TIN VÀ ĐÃ HIỂU
Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?
Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.

Lấy từ CNA

ĐTC Benedictô trong bài giảng giữa trưa khi đọc Kinh Truyền Tin nói sự thiếu chân thành trong cuộc sống là “dấu vết của ma quỷ” mà chúng ta chứng kiến trong quyết định của Giuđa Iscariot để tiếp tục theo Chúa Giêsu mặc dầu hắn ta đã không còn tin vào Chúa Giêsu nữa.

“Vấn nạn là Giuđa đã chẳng lìa bỏ Chúa Giêsu, và lỗi nặng nhất của Giuđa là giả dối, dấu vết của ma quỷ. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói với Nhóm Mười Hai: “Một người trong anh em lại là quỷ”.

ĐTC mời gọi các tín hữu hãy cầu nguyện để Đức Maria giúp họ tin vào Chúa Giêsu như Thánh Phêrô và “luôn thành thật với Ngài và với mọi người.”

Sau khi Chúa Giêsu tuyên bố Ngài “là bánh hằng sống từ trời xuống” nhiều môn đệ đã theo Ngài “rút lui và không theo Ngài nữa.”

Khi Chúa Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai nếu họ cũng muốn bỏ Ngài, Thánh Phêrô trả lời thay cho họ: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

ĐTC nói một kẻ ngoại lệ là Giuđa Iscariot “đã có thể bỏ Chúa Giêsu như những môn đệ khác; thật vậy, hắn đáng lẽ lìa bỏ Chúa Giêsu nếu hắn ta là người thành thật”. Thay vì thế, Giuđa chọn để ở lại với Chúa Giêsu. Không vì lòng tin tưởng hay vì tình yêu, ĐTC Benedicto nói, nhưng vì một ước ao thầm kín để báo thù cái hằn hắn có với Thầy của mình.

“Bởi vì Giuđa cảm thấy mình bị phản bội bởi Chúa Giêsu, và quyết định anh ta cũng sẽ phản bội Ngài. Giuđa là người thuộc nhóm Quá Khích, và muốn một Đấng Mêsia khải hoàn, Đấng mà sẽ dẫn đầu một cuộc nổi loạn chống lại Đế Quốc Rôma”. Trái lại, Chúa Giêsu “đã làm thất vọng những ao ước ấy.

ĐTC quay về với 11 tông đồ, những kẻ vẫn tin Chúa Giêsu và nhắc nhở mọi người về “một chú giải rất tuyệt diệu” của Thánh Augustinô khi ngài quan sát cách Thánh Phêrô “đã tin và đã hiểu”.

“Thánh Augustinô không nói chúng ta đã hiểu và tin, nhưng chúng ta đã tin và đã hiểu. Chúng ta phải tin để có thể hiểu,” như Thánh Augustinô đã viết trong bài chú giải về Tin Mừng của Thánh Gioan.

Wednesday, July 11, 2012

Ngài yêu thương bạn cách trọn vẹn

“Ma quỷ cố gắng dùng những vết thương trong cuộc sống, đôi khi đó là những lỗi lầm của chúng ta, để khiến ta cảm thấy ta không thể được Chúa Giêsu yêu thương thật lòng, và điều đó bám dính lấy bạn. Thật là một mối nguy hiểm cho tất cả chúng ta. Và thật buồn, vì nó hoàn toàn ngược lại với điều Chúa Giêsu thật sự muốn, Ngài đợi chờ để nói chuyện với bạn. Ngài không chỉ yêu bạn, mà hơn thế nữa, Ngài ước ao bạn. Ngài nhớ bạn khi bạn không đến bên Ngài. Ngài khao khát bạn. Ngài yêu bạn luôn mãi, cả khi bạn cảm thấy bất xứng, không được mọi người chấp nhận, thậm chí bạn cũng đôi khi không chấp nhận chính bản thân mình. Ngài là người duy nhất luôn luôn chấp nhận bạn. Chỉ cần tin rằng bạn thật quý giá đối với Ngài. Hãy đem tất cả những nỗi đau bạn chịu đựng đến dưới chân Ngài, mở trái tim bạn ra để được Ngài yêu thương bạn cách trọn vẹn, bạn ngay lúc này. Còn lại tất cả những gì sau đó, Ngài sẽ hoàn tất.”--Mẹ Têrêsa Calcutta

Friday, June 29, 2012

Công lý trong chính trị


Ba Ngôi Thiên Chúa xét xử mọi người
như trong dụ ngôn tách rẽ chiên và dê

Thông Điệp Deus Caritas Est - Thiên Chúa là Tình Yêu số 28 của ĐTC Benedictô

Để xác định chính xác hơn mối tương quan giữa việc dấn thân cần thiết cho công lý và thừa tác vụ bác ái, hai hoàn cảnh nền tảng cần được xem xét:

a) Tổ chức đúng đắn cho xã hội và Quốc gia là một trách nhiệm cốt yếu của chính trị. Như thánh Augustinô đã từng nói, một Quốc gia không được cai trị theo công lý chỉ có thể là một bầy trộm cướp: “Remota itaque iustitia quid sunt regna nisi magna latrocinia?”[18] Sự phân biệt giữa cái gì thuộc về Xêda và cái gì thuộc về Thiên Chúa (x. Mt 22,21) là nền tảng đối với kitô giáo, nói cách khác, sự phân biệt giữa Hội Thánh và Quốc gia, hoặc, như Công đồng Vatican II diễn đạt, sự độc lập của lãnh vực trần thế.[19] Chính quyền không thể áp lực trên tôn giáo, tuy nhiên nó phải bảo đảm quyền tự do tôn giáo và sự hoà hợp giữa những người theo các tôn giáo khác nhau. Về phần mình, Hội Thánh, như một diễn tả về phương diện xã hội của đức tin kitô giáo, có một sự độc lập riêng và được tổ chức trên nền tảng của đức tin như một cộng đoàn mà Chính quyền phải nhìn nhận. Hai lãnh vực phân biệt lẫn nhau, tuy vậy luôn có quan hệ lẫn nhau. 

Công lý vừa là mục tiêu và tiêu chuẩn nội tại của mọi quyền lực chính trị. Chính trị còn hơn là một cơ chế để xác định luật lệ cho đời sống công cộng: nguồn gốc và mục đích của nó được tìm thấy trong công lý, và nó thuộc về lãnh vực đạo đức [luân thường đạo lý]. Chính quyền không thể không đối diện với câu hỏi: làm thế nào để công lý có thể được thực hiện nơi đây và lúc này. Nhưng câu hỏi đó bao hàm một câu hỏi triệt để hơn nữa: công lý là gì? Đây là một vấn đề liên quan đến lý trí thực hành; nhưng để có thể được sử dụng cách đúng đắn, lý trí cần phải trải qua sự thanh luyện thường xuyên, bởi vì lý trí không bao giờ có thể được hoàn toàn giải thoát khỏi nguy cơ của một thứ mù quáng về phương diện đạo đức, gây ra bởi tác dụng chói chang của quyền lực và lợi ích.


Chúa Giêsu ánh sáng của thế giới

Tại điểm này, chính trị và đức tin gặp nhau. Đức tin do bởi bản tính riêng là một sự gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống—một cuộc gặp gỡ mở ra những chân trời mới vượt khỏi lãnh vực của lý trí. Nhưng đồng thời nó là một sức mạnh có sức thanh luyện chính lý trí. Khởi từ viễn ảnh của Thiên Chúa, đức tin giải thoát lý trí khỏi sự mù quáng và vì thế giúp lý trí trở nên hoàn thiện hơn. Đức tin giúp lý trí chu toàn công việc cách hiệu quả hơn và thấy mục tiêu riêng rõ hơn. Giáo thuyết xã hội của Công giáo đặt mình vào chỗ ấy: nó không nhắm đem lại cho Hội Thánh quyền lực trên Chính quyền. Nó càng lại không muốn áp đặt trên những người không chia sẻ cùng một đức tin lối suy nghĩ và cách hành động riêng của mình. Nó chỉ muốn giúp thanh luyện lý trí và góp phần vào sự hiểu biết và đạt tới điều gì là công bình, nơi này và lúc này.

Giáo huấn xã hội của Hội Thánh biện luận trên nền tảng của lý trí và luật tự nhiên, nghĩa là, trên nền tảng của cái gì tương hợp với bản tính của nhân loại. Hội Thánh nhìn nhận rằng không phải trách nhiệm của mình là làm cho giáo huấn này chiếm ưu thế trong lãnh vực chính trị. Đúng hơn, Hội Thánh muốn giúp đào tạo lương tâm trong lãnh vực chính trị và kích thích sự hiểu biết rõ ràng hơn những đòi hỏi đích thực của sự công lý cũng như sự sẵn sàng lớn hơn để hành động cho phù hợp, cho dù nó có thể gây nên xung đột với những hoàn cảnh của lợi ích riêng tư. Xây dựng một xã hội công lý và trật tự dân sự, nơi ấy mỗi người lãnh nhận điều thuộc về họ, là một nhiệm vụ cốt yếu mà mọi thế hệ phải luôn mãi quan tâm. Vì là một nhiệm vụ chính trị, nó không thể là trách nhiệm trực tiếp của Hội Thánh. Tuy nhiên, bởi vì đây cũng là một trách nhiệm quan trọng nhất của nhân loại, Hội Thánh buộc lòng phải trao tặng một sự đóng góp riêng, qua việc thanh tẩy lý trí và qua việc huấn luyện đạo đức, để hiểu biết và chu toàn những đòi hỏi của công lý trong lãnh vực chính trị.
--Nguồn http://thanhlinh.net/node/4008 ngoại trừ từ "công bằng" được đổi với "công lý"

Wednesday, June 27, 2012

Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2012

Dịch từ VIS News

Chiều hôm qua, thứ bảy ngày 3 tháng 6, 2012, gần nửa triệu người tham dự buổi “Gặp họp của những chứng nhân” ở Bresco Park, Milan, Ý, một trong những sự kiện của Đại Hội Gia Đình Thế Giới. ĐTC đến nơi vào lúc 8:30 tối để ttham dự và ngài trả lời những câu hỏi các gia đình đưa ra bao gồm vấn đề khủng hoảng kinh tế, vị trí của những người đã ly dị trong Giáo Hội và sự bất khả phân ly của bí tích Hôn Phối. ĐGH Benedictô cũng chia sẻ về thời thơ ấu và gia đình của ngài.

Một cặp đính hôn từ Madagascar đang học tại trường đại học ở Ý nói về sự băn khoăn họ cảm thấy khi đối diện với sự “suốt cả đời” của bí tích Hôn Phối. ĐTC giải nghĩa rằng sự bắt đầu yêu, ở trong tình trạng cảm xúc thì không vĩnh viễn. “Cảm xúc yêu phải được thanh luyện. Nó phải trải qua một hành trình nhận định và trong quá trình đó trí tuệ và ý chí cũng sẽ có phần đóng góp… Trong nghi thức Hôn Phối, Giáo Hôi không hỏi nếu hai người yêu nhau nhưng là nếu họ muốn, nếu họ cương quyết [để yêu nhau]. Nói cách khác, sự bắt đầu yêu phải trở nên tình yêu đích thực; nó phải có sự tham gia của ý chí và trí tuệ trong cuộc hành trình thanh luyện, giai đoạn của sự sâu xa hơn để tất cả của con người, với mọi khả năng của người ấy, với nhận định của lý trí và sức lực của ý chí, con người ấy nói: “Vâng, đây là đời của tôi.” ĐTC cũng nhắc đến những yếu tố quan trọng khác chẳng hạn như sự hiệp thông đời sống với những người khác, với bạn bè, Giáo Hội, đức tin và với chính Thiên Chúa.

Một gia đình từ Ba Tư đưa lến vấn đề của các cặp vợ chồng đã ly dị và nay lại tái hôn và họ không thể tham gia vào các bí tích của Giáo Hội. ĐTC Benedictô khẳng định rằng “đây là một trong những nguyên nhân đem đau khổ đến với Giáo Hội hôm nay, và chúng ta không có những giải quyết đơn giản…. Đương nhiên ngăn chặn việc ly dị để nó không phải xảy ra là một phần tử quan trọng. Một phần tử khác là đồng hành với các cặp hôn nhân để bảo đảm các gia đình không bao giờ bị đơn côi nhưng tìm được đồng hành đích thức trên con đường hành trình của họ. Chúng ta phải nói với những người trong hoàn cảnh này Giáo Hội yêu thương họ, nhưng họ phải nhận thấy và cảm nghiệm được tình yêu thương này.” Các giáo xứ và cộng đồng Công Giáo “phải làm mọi sự có thể để những người này cảm thấy được yêu thương và chấp nhận, rằng họ không phải là “những người bên ngoài” ngay cả khi họ không thể lãnh nhận lời xá tội và bí tích Thánh Thể. Họ phải thấy được rằng họ cũng sống trong Giáo Hội cách trọn vẹn…. Bí tích Thánh Thể [theo nghĩa đón nhận, rước lễ] thì thật và được chia sẻ nếu họ thực sự đi vào sự hiệp thông với Thân Thể của Chúa Kitô. Ngay cả khi không có sự đón nhận ‘thân thể’ của Bí tích, chúng ta có thể được kết hợp với Chúa Giêsu cách thiêng liêng”. Nó là một quan trọng cho các cặp hôn nhân đã ly dị “để có cơ hội sống đời sống đức tin,… để thấy rằng sự chịu đựng của họ là một món quá cho Giáo Hội, vì họ cũng giúp những người khác bảo vệ tính kiên định/không thay đổi của tình yêu, của Hôn Phối;… nỗi chịu đựng của họ là sự đau khổ trong cộng đoàn Giáo Hội cho những giá trị lớn lao của đức tin.

Một gia đình từ Hy lạp hỏi ĐTC các gia đình bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế có thể làm gì để không mất niềm hy vọng. ĐTC trả lời: “Lời nói không đủ. Chúng ta phải làm điều gì cụ thể và mọi người chúng ta cùng chịu sầu khổ vì chúng ta không thể làm điều ấy. Trước hết, chúng ta hãy nói về chính trị. Tôi tin rằng tất cả nhóm cần bày tỏ trách nhiệm hơn nữa, rằng họ không nên đưa ra những hứa hẹn mà họ không thể thi hành, họ không nên chỉ tìm phiếu bầu cứ cho chính họ nhưng phải biểu lộ trách nhiệm cho lợi ích chung của mọi người, với ý thức chính trị cũng là một trách nhiệm của con người và diện luân lý trước mặt Chúa và con người.” Hơn nữa, mỗi một người chúng ta phải làm mọi việc chúng ta có thể làm “với ý thức lớn lao về trách nhiệm và trong sự hiểu biết rằng nếu chúng ta muốn vượt qua khó khăn, hy sinh là một cần thiết.” ĐTC cũng đề nghị là các gia đình giúp đỡ nhau, và các giáo xứ, các thôn xóm cũng làm như vậy, hỗ trợ nhau về vật chất và đừng quên việc cầu nguyện.

Monday, December 26, 2011

Ta là Ánh Sáng thế gian
Các con là ánh sáng thế gian

HOMILY OF POPE BENEDICT XVI
EVENING VIGIL WITH YOUNG PEOPLE
EXHIBITION CENTER
FREIBURG
24 SEPTEMBER 2011

 

Các bạn trẻ thân mến,

Cả ngày hôm nay tôi mong chờ buổi tối này, và cơ hội gặp gỡ với các bạn và cùng hiệp ý với nhau trong lời cầu nguyện. Nhiều người trong các bạn đã hiện diện ở ngày hội giới trẻ thế giới, nơi chúng ta có thể trải nghiệm một bầu khí thanh bình đặc biệt, tình bằng hữu sâu sắc và niềm hân hoan vui sướng từ nội tâm tiêu biểu cho một buổi tối canh thức cầu nguyện. Mong ước của tôi là giờ đây chúng ta có thể trải nghiệm những điều như vậy: rằng Chúa đánh động trái tim của chúng ta và làm chúng ta trở nên nhân chứng tình yêu, những người cùng nhau cầu nguyện và giúp đỡ những người khác, không chỉ trong buổi tối nay mà trong suốt cuộc sống của chúng ta.

Trong tất cả nhà thờ, các thánh đường , bất kỳ nơi đâu các tín hữu cùng nhau tổ chức lễ Vọng Phục Sinh, buổi tối linh thiêng nhất này bắt đầu với ánh sáng của cây nến phục sinh, ánh sáng ấy của Người sau đó được truyền qua tất cả những người đang hiện diện nơi đây . Nghi thức tuyệt diệu này mà chúng ta đã thực thi trong tối hôm nay, tỏ lộ cho chúng ta trong các dấu chỉ, hùng biện hơn lời nói, mầu nhiêm của đức tin Kitô giáo.

Chúa Giê-su nói: “Ta là ánh sáng thế gian” (Jn 8:12), làm cho cuộc sống của chúng ta được chiếu sáng rực rỡ, vì vậy điều chúng ta đã từng được nghe trong kinh thánh trở thành sự thật: “Các con là ánh sáng thế gian” (Mt5:14). Không phải là khả năng của con người hay sự tiến bộ kỹ thuật của thời đại chúng ta mang lại ánh sáng cho thế gian này. Chúng ta phải trải nghiệm lần qua lần sự cố gắng của chúng ta để đem lại một thế giới tốt và công lý hơn gặp phải giới hạn của nó.

Cái đau khổ không nguyên cớ và thực tế cuối cùng của sự chết đợi mỗi người chúng ta là một bóng tối dày đặc cái mà có lẽ, qua những trải nghiệm mới, lóe lêntrong chốc lát, như thể một ánh sáng lóe lên trong đêm. Thế nhưng cuối cùng, vẫn là một màn đêm khủng khiếp.

Trong khi tất cả xung quanh chúng ta có thể toàn bóng tối và u ám, chúng ta nhìn thấy một ánh sáng: một ánh sáng nhỏ, rất nhỏ nhưng nó mạnh hơn cả bóng đêm dày đặc và bất khả chiến bại. Chúa Giê-su đã sống lại từ cõi chết, chiếu sáng trên thế gian này và Ngài là ánh sáng rực rỡ nhất ở những nơi mà, theo quan niệm loài người, tất cả chỉ là tăm tối và bất hạnh. Ngài đã chiến thắng sự chết– Ngài là sự sống – và lòng tin tưởng nơi Ngài, như một ánh sáng nhỏ, phá tan tất cả tối tăm và sự đe dọa. Chắc chắn rằng những người mà tin tưởng vào Đức Giê-su không luôn có một cuộc sống vui tươi vĩnh cửu như thể họ không cần chịu nhiều nỗi đau và khó khăn, nhưng trong họ luôn có ánh sáng le lói ở đó, thắp sáng con đường đưa đến cuộc sống mãn nguyện (cf. Jn 10:10). Những người tin tưởng vào Chúa thì mắt họ sẽ nhìn thấy ánh sáng ngay giữa đêm tối và họ luôn nhìn thấy bình minh của một ngày mới.

Ánh sáng không ở đơn độc. Xung quanh, những ánh sáng khác chiếu sáng lên. Trong tia sáng của chúng nó không gian có hình bóng của nó, vì thế chúng ta có thể tìm thấy phương huớng của chúng ta. Chúng ta không sống đơn độc trên thế gian này. Và để làm những điều quan trọng trong cuộc sống mà chúng ta phải cậy dựa vào những người khác. Đặc biệt trong đức tin của mình , chúng ta không đứng một mình, chúng ta liên kết trong một chuỗi dài của những người tín hữu. Không ai có thể tin nếu người ấy không được giúp đỡ bởi đức tin của những người khác, và ngược lại, qua sự tin tưởng của tôi, tôi làm mạnh thêm niềm tin của những người khác.

Chúng ta giúp đỡ lẫn nhau để đặt một mẫu gương, chúng ta chia sẻ với người khác những gì là của mình: suy nghĩ của chúng ta, hành động của chúng ta, tình cảm của chúng ta. Và chúng ta giúp người khác tìm thấy phương hướng của chúng ta, chỗ của chúng ta trong xã hội

Các bạn trẻ thân mến, Chúa nói: “Ta là ánh sáng thế gian – Các con là ánh sáng thế gian”. Thật là huyền bí và tuyệt diệu khi Chúa Giêsu áp dụng khẳng định về Ngài cho mỗi một người chúng ta, đó là "ánh sáng". Nếu chúng ta tin rằng Ngài là con của Thiên Chúa, Đấng chữa lành bệnh và làm cho người chết sống lại, Đấng đã đi ra tự mình đi ra khỏi mồ và thật đang sống thì chúng ta có thể hiểu rằng Ngài là ánh sáng, là nguồn của tất cả mọi ánh sáng trên thế gian này. Mặt khác, chúng ta trải nghiệm ngày càng nhiều những thất bại từ sự nỗ lực của chúng ta và những thiếu sót cá nhân của chúng ta, mặc dù rất quyết tâm. Cuối cùng là thế giới chúng ta sống, với những tiến bộ kỷ thuật của nó, vẫn không có gì tốt hơn cả. Vẫn còn chiến tranh và khủng bố, đói khát và bệnh tật, cảnh bần cùng chua xót và áp bức tàn nhẫn. Và thậm chí trong lịch sử của chúng ta những người đã nhìn thấy bản thân họ như “người đem ánh sáng”, nhưng khi không được đốt sáng bởi Chúa Kitô, một ánh sáng đích thực, đã không tạo một thiên đường trần gian, nhưng thiết lập chế độ độc tài và các hệ thống độc tài để ở đó thậm chí một tia sáng nhỏ nhất của con người cũng bị bóp nghẹt.

Ở điểm này chúng ta không thể giữ im lặng về sự hiện hữu của sự dữ. Chúng ta nhìn thấy nó nhiều nơi trong thế gian này; nhưng chúng ta cũng nhìn thấy nó – và nó làm chúng ta đáng sợ –trong chính cuộc sống của chúng ta.

Thật sự, trong tâm của chúng ta có một khuynh hướng về sự dữ, có sự ích kỷ, sự đố kỵ, gây hấn. Có lẽ với sự rèn luyện bản thân, những điều này có thể kiểm soát được. Nhưng nó trở nên khó khăn hơn với những khiếm khuyết có tính cách ẩn dấu, có thể nhấn chìm chúng ta như trong một làn sương mù dày đặc, chẳng hạn như sự chậm chạp, hay lười biếng để ước muốn và làm những việc tốt. Lần lại lần trong lịch sử, những người quan sát với con mắt sắc bén đã chỉ ra rằng thiệt hại đến cho Giáo hội không từ đối thủ của mình, nhưng từ những người Kitô hữu không dám dấn thân. Vì thế làm sao Chúa Giê-su có thể nói rằng những người Kitô hữu này, bao gồm cả những người yếu đuối và thường không sốt sắng, là ánh sáng của thế gian? Có lẽ chúng ta có thể hiểu Ngài nếu Ngài đã gọi đến với chúng ta: hãy sám hối! trở nên ánh sáng của thế gian! Hãy thay đổi cuộc sống, làm nó sáng lên và sáng rực rỡ! Chúng ta chẳng ngạc nhiên sao khi Chúa không nói những lời kêu gọi ấy với chúng ta, nhưng nói với chúng ta rằng chúng ta là ánh sáng của thế gian, chúng ta tỏa sáng, chúng ta chiếu sáng trong bóng đêm sao?

Các bạn trẻ thân mến, Thánh Phaolô trong những thư của ngài đã chẳng chùn bước để kêu gọi những người đồng thời với ngài, thành viên của cộng đoàn đia phương, “các thánh”. Ở đây nó trở nên rõ ràng rằng mọi người được rửa tội – ngay cả trước khi thực hiện những việc tốt hay có những thành quả đặc biệt – là được thánh hóa bởi Chúa. Trong bí tích Thánh Tẩy, Chúa Giêsu, như đã làm, làm bừng sáng trong cuộc sống của chúng ta điều Giáo Lý gọi là ơn thánh hóa. Những người canh giữ ánh sáng này, những người sống nhờ ân sủng, thực sự là thánh thiện

Các bạn trẻ thân mến, lần này đến lần khác ý niệm về các thánh bị biếm họa và xuyên tạc, như thể để là thánh có nghĩa là tách biệt khỏi thế gian này, ngờ nghệch và ủ rũ. Chúng ta thường nghĩ rằng một vị thánh phải là một người tu luyện khổ hạnh và đạo đức, người có thể rất được kính trọng, nhưng chúng ta không thể bắt chước họ. Ý kiến này thật sai lầm! Không có thánh nào, ngoại trừ Đức trinh nữ Maria, người không biết đến tội, người không bao giờ sa ngã. Các bạn trẻ thân mến, Chúa Giê-su không quan tâm đến bao nhiêu lần bạn bị vấp ngã hơn là bao nhiêu lần bạn đã đứng lên một lần nữa sau khi bị vấp ngã. Ngài không yêu cầu những thành tích lấp lánh, nhưng Ngài muốn ánh sáng của Ngài chiếu sáng trên bạn. Ngài không gọi các bạn vì các bạn là người tốt và hoàn hảo, nhưng vì Ngài tốt lành và Ngài muốn làm các bạn là bằng hữu của Ngài. Phải, các bạn là ánh sáng thế gian bời vì Chúa Giê-su là ánh sáng của các bạn. Các bạn là người Kitô hữu – không vì các bạn làm những điều đặc biệt và lạ thường, nhưng bởi vì Chúa Giê-su là cuộc sống của các bạn. Các bạn thánh thiện vì ân sủng của Người đang hoạt động trong bạn.

Các bạn thân mến, buổi tối hôm nay chúng ta quy tụ lại chung quanh Thiên Chúa duy nhất, chúng ta cảm nhận sự thật của lời Chúa Giê-su nói rằng thành phố xây dựng trên một đỉnh đồi không thể bị che khuất. Sự quy tụ này chiếu sáng không chỉ qua một cách– trong ánh sáng rực rỡ của vô vàn ánh sáng, trong sự huy hoàng của rất nhiều bạn trẻ tin tưởng vào Chúa. Một cây nến chỉ có thể đem đến ánh sáng nếu nó để bị chính nó tan chảy bởi lửa. Nó sẽ vô dụng nếu sáp của nó không duy trì lửa Hãy để Chúa đốt cháy trong các bạn, thậm chí phải trả giá bằng sự hy sinh quên mình. Đừng sợ rằng các bạn có thể bị mất đi điều gì đó để cuối cùng bàn chỉ có bàn tay trắng. Hãy can đảm để đưa những tài năng và những món quà của các bạn cho nước Chúa và để bản thân bạn – như sáp nến – qua các bạn Chúa thắp ánh sáng giữa đêm tối. Hãy dám trở nên những vị thánh sáng chói mà trong mắt và trái tim của họ tình yêu Chúa Kitô chiếu rọi và vì thế họ mang ánh sáng đến thế gian. Tôi tin rằng các bạn và nhiều bạn trẻ người Đức khác ở đây là những ngọn đèn hy vọng mà không còn bị che khuất. “Các con là ánh sáng thế gian”. Amen.

Monday, September 12, 2011

Quên lo âu để tìm hạnh phúc

Bao lâu anh em còn làm nhiều sự, nếu ít ra anh em không học biết từ bỏ ý riêng và quy phục, bỏ đó nỗi âu lo về chính mình, và về những gì thuộc về mình, anh em sẽ không thể tiến triển được trên đường hoàn thiện.
--Thánh Gioan Thánh Giá


 

Tuesday, July 12, 2011

Đâu có Sự Sống, sự chết sẽ không còn.
Đâu có Ánh Sáng, bóng tối sẽ phải rút lui


Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?” Người đáp: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành. (Mt 13,10-14)

 

Không biết vì lý do gì tôi lướt qua câu nhấn mạnh trên của đoạn Phúc Âm ngày Chúa Nhật XV Mùa Thường Niên. Nhưng khi tôi đọc lại thì câu này nổi bật lên nhắc nhở tôi Thiên Chúa rất muốn cho loài người được một cuộc sống an lành hạnh phúc ngay cả đời này.

Chúng ta không muốn làm điều dữ nhưng chúng ta lại làm điều dữ. Thường thường, chúng ta không làm vì ác ý nhưng vì yếu đuối, không có đủ khả năng để vượt qua khỏi tính xấu của mình, tính ích kỷ và sự thiếu tha thứ của mình. Chúa Giêsu biết rõ lòng dạ của con người và Ngài muốn giúp chúng ta.

Tôi muốn sống đẹp lòng Chúa nhưng tôi thường hành động cách ích kỷ, bảo vệ cái tôi của mình. Nó giống như nếu vật gì đụng đến vết thương trên người mình, phản ứng tự nhiên của con người là hất bỏ vật ấy để bảo vệ chính mình trước hết. Nó là luật sống còn trong thế giới tự nhiên. Chỉ tội ai trong chúng ta cũng có vết thương riêng của mình và chúng ta đụng chạm nhau luôn trong cuộc sống. Nếu cứ theo luật tự nhiên này để sống, chúng ta sẽ tự huỷ lẫn nhau. Vì thế, được chữa lành khỏi vết thương của tâm hồn là điều rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu.

Thiên Chúa biết tôi cần được chữa lành và điều kiện của Ngài là "lắng tai nghe lời Chúa, mở mắt để thấy việc Chúa làm để hiểu và hoán cải" và Ngài sẽ chữa tôi lành. Tôi đã thấy Chúa chữa lành người trong gia đình tôi chỉ vì họ trở về với Chúa. Chúa đang chữa lành tôi vì tôi cầu khẩn Ngài.

Thiên Chúa là Sự Sống. Chữa lành bệnh hoạn tật nguyền là bản năng của Chúa. Đâu có Sự Sống, sự chết sẽ không còn. Đâu có ánh sáng, bóng tối sẽ phải rút lui. Đến với Chúa và tôi sẽ được chữa lành. Không còn điều kiện nào khác.

Sunday, June 26, 2011

Uớc muốn thiên đàng, tôi đi tìm hạnh phúc


Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh. (Col 1,24)


Sau hơn 25 năm cố gắng sống đời tốt lành đẹp lòng Chúa bây giờ tôi mới hiểu lý do của những khổ tâm của tôi.

Tôi cố gắng sống đời đạo đức của con chiên ngoan đạo để trở thành người tốt, để làm đẹp lòng Chúa. Tôi đón nhận hy sinh với nhiều lưỡng lự, cắn răng chịu đựng vì “mọi sự sẽ qua đi.”

Rầm rĩ như than nằm sâu dưới lớp tro dày là ước muốn có một đời hạnh phúc. Nó là động lực sống của tôi. Thiên đàng mai sau xa vời quá. Tôi tìm mọi cách để có sự bình an và hạnh phúc ngay bây giờ.

Bí lối, tôi buộc phải nhận ra rằng cái hạnh phúc mà tôi muốn, tôi sẽ không tìm được nó và nhờ đó có thể nhận ra sự sai lầm của mình.

Hạnh phúc không thể là mục đích của đời tôi. Hạnh phúc là kết quả của một cách sống. Vì mục đích của tôi là đi tìm hạnh phúc, cuộc sống trở nên khó khăn nặng nề và đầy thất vọng. Những xảy ra trong cuộc sống ít khi đi theo ý tôi và tôi chống cự những xảy ra này. Thay vì được hạnh phúc vì ít khi sự việc xảy ra theo ước muốn quá vị kỷ của tôi, tôi lại phải đương đầu với những "khó khăn" xảy ra ngoài dự định. Tôi muốn trở nên một người tốt cho lợi ích của riêng tôi, cho sự thánh thiện của đời tôi, để được lòng người khác. Tôi hy sinh để có sức mạnh và để Chúa hài lòng với tôi. Rút cuộc, tôi là cùng đích của mọi sự.

Chúa Giêsu hiến thân mình trên cây thập tự là một sự lôi cuốn mạnh mẽ của đời vị tha nhưng cũng là sự sợ hãi của tôi. Tôi sợ đau khổ, sợ mất mát.

Ơn Chúa xuống trên tôi như nước nhỏ trên tảng đá. Rơi mãi đá cũng mòn và cuối cùng tôi “chợt hiểu”. Nếu tôi muốn hạnh phúc, tôi sẽ không tìm hạnh phúc nhưng hết mọi cách dâng hiến tất cả đời tôi: sức lực, khả năng, trí khôn cho Thiên Chúa và để làm sáng danh Chúa.

Thiên Chúa đã yêu tôi cách điên cuồng đến nỗi Ngài đã hiến thân mình để tôi được sống. Tôi cũng sẽ đáp trả tình yêu ấy với trót cả đời mình. Tôi có thể đoán được tôi sẽ rất hạnh phúc nếu tôi sống tất cả cho Chúa.

Mục đích của tôi không còn là hạnh phúc nhưng là để yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn bằng đời sống tận hiến phục vụ Chúa qua việc phục vụ anh chị em mình.

Để phục vụ Chúa cách trọn vẹn, tôi sẽ phải chiến đấu với khuynh hướng ích kỷ, và vượt qua những sợ hãi của lòng kém tin.

Khi tôi không đi tìm hạnh phúc, thì hạnh phúc của thiên đàng là một sự có thể cho tôi ngay cả đời này. Tôi ước mong được như Thánh Phaolô, Thánh Têrêsa Hài Đồng, Thánh Têrêsa Avila để coi những hy sinh, những chịu đựng như là vinh dự của mình để được hiệp thông với Chúa Giêsu.

Hạnh phúc là hoa quả của tình yêu. Hạnh phúc và bình an là hồng ân của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa của tình yêu. Bây giờ tôi "chợt hiểu".

Thursday, June 9, 2011

Bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt
(2 Cor 4,8)


Trong cuộc sống của người Kitô hữu, con đường trở nên thánh thiện là một con đường lên dốc thẳng, đầy chiến đấu gay go. Khi chúng ta tưởng mình đã vượt qua được một trở ngại và mạnh sức hơn một tí, chúng ta lại gặp lại vấn đề cũ của ích kỷ, cái tôi quá lớn vật ngã một lần nữa.

Chúng ta muốn xuôi tay bỏ cuộc cho rằng việc trở nên thánh thiện là việc của ai đó nhưng chúng ta khi thôi xin kiếu.

Chúng ta nghĩ thánh thiện là từ sức mạnh ý chí sắt đá của riêng mình. Khi chúng ta không có ý chí sắt đá đó thì trở nên thánh nhỏ thôi là cũng đủ.

Phản ứng của những người anh em Tin Lành khi họ nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo dạy chúng ta nên thánh nhờ sức mạnh sắt đá của chính mình, giúp tôi suy nghĩ nhiều hơn về đời thánh thiện trong Kinh Thánh.

Đấng Sáng Lập dòng Nữ Tử Thánh Phaolô, Chân Phước Alberione có viết vài bài cầu nguyện và vì một lý do nào đó, tôi luôn nhớ: Xin đặt ý chí của Thầy thay cho ý chí của con; Xin thay thế tình yêu của con cho Chúa và cho tha nhân bằng tình yêu của Chúa; Xin thay thế trái tim con với trái tim của Chúa.

Có lẽ tôi thích những lời nguyện này vì nó đặt gánh nặng cho sự thánh thiện của tôi trên vai Chúa. Dù rằng tôi cũng phải cộng tác với Chúa, những lời nguyện này đem an ủi đến tâm hồn tôi vì Thiên Chúa là Đấng chủ sự. Tôi không biết đường để đi, nhưng việc vạch ra con đường là việc của Chúa. Không phải của tôi.

ĐGH Benedict trong cuốn một của “Đức Giêsu Thành Nazareth,” trong đoạn chú giải về Kinh Lạy Cha sau khi nói ở đâu Thiên Chúa không hiện diện, nơi đó con người sẽ tiêu vong cùng với cả thế giới. Và ở đâu thánh ý của được thực hiện ở đó là trời. Ở đâu thánh ý Chúa không được thực hiện, đó chỉ là đất. Ngài tiếp tục: "Từ đó, chúng ta có thể biết trong ý nghĩa sâu xa và đặc thù nhất, Đức Giêsu là 'trời'—trong Người và qua Người, ý muốn Thiên Chúa đã được thực thi trọn vẹn. Khi nhìn ngắm Người, chúng ta học được rằng chúng ta không thể nào tự mình nên công chính được: trọng lực ý muốn của chúng ta luôn lôi kéo chúng ta ra khỏi ý muốn của Thiên Chúa, bắt chúng ta trở thành “đất”. Nhưng Người đón lấy chúng ta, kéo chúng ta về Người, vào trong Người, và trong sự hiệp thông với Người, chúng ta học được ý muốn Thiên Chúa. Như thế, trong lời cầu xin thứ ba của Kinh Lạy Cha, chúng ta khẩn cầu để luôn được gần gũi với Người, để ý muốn của Thiên Chúa lướt thắng được sức lực ích kỷ nặng nề của chúng ta, nâng chúng ta đến nới mà chúng ta được kêu gọi."

Thật là tràn đầy niềm an ủi. Thiên Chúa biết rõ con người tôi luôn hướng về “đất” nhưng Người không để tôi một mình. Cuối cùng Chúa sẽ toàn thắng. Ngài sẽ thay thế cái gì là của tôi, với cái gì là của Ngài. Lạy Chúa, con đặt hy vọng vào tình yêu của Ngài. Dầu con không đủ sức, Chúa sẽ là sức mạnh của con.

Wednesday, April 27, 2011

Vật chất được đem vào sự sống mới


Ngài đã trao ban chính mình Ngài cho tôi, và kéo tôi ra khỏi chính mình, hướng tôi lên cao

Trich từ bài phỏng vấn ĐGH Benedict của đài truyền hình Ý đâyđây:

“Chúa Giêsu đã không để thân xác của mình bị hư nát. Điều này nói cho chúng ta rằng ngay cả vật chất cũng được đem vào chốn đời đời, nó sẽ được phục sinh, nó không là vật bị mất đi. Nhưng Ngài đã đem vật chất này vào một trạng thái mới của sự sống.

Vì thế có một trạng thái mới, một trạng thái khác, mà chúng ta không biết nhưng đã được tỏ bày trong sự kiện vể Chúa Giêsu và đó là một hứa hẹn lớn lao cho chúng ta: rằng có một thế giới mới, một đời sống mới mà chúng ta đang hành trình về đó.

Ở trong trạng thái này, Chúa Giêsu có thể để Ngài được cảm giác, dang tay ra cho những kẻ theo Người, ăn uống với họ, nhưng vẫn ở ngoài đời sống sinh lý chúng ta đang sống.

Ngài là một người thật, không phải là một bóng ma, rằng Ngài sống một đời sống thật, nhưng là một đời sống mà không còn qui phục sự chết. Đó là lời hứa hẹn lớn lao của chúng ta.

Thật quan trọng để hiều điều này, rõ ràng như chúng ta có thể cho Thánh Thể.

Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta thân xác vinh hiển của Ngài, không phải là thịt để ăn trong trạng thái sinh vật.

Ngài trao ban cho chúng ta chính mình Ngài, sự mới mẻ mà Ngài là, trong nhân tính của chúng ta, trong thể lý con người của chúng ta, và sự mới mẻ này chạm với chúng ta qua bản chất của Ngài để chúng ta có thể để chính mình được thâm nhập bởi sự hiện diện của Ngài, biến hóa trong thánh nhan Ngài.

Điểm này điểm quan trọng vì chúng ta qua đó đã có tiếp xúc với đời sống mới này, loại mới của sự sống, vì Ngài đã vào trong tôi và tôi đã đi ra ngoài chính mình và tôi được nối dài đến một phạm vị mới của sự sống.

Nó không phải về việc chú ý đến những điều chúng ta không hiểu nhưng là để đi trên một cuộc hành trình đến một cảnh sống mới mẻ mà luôn bắt đầu lại một lần nữa trong Thánh Thể.”

Cha sáng lập của Dòng, Chân Phước Giacôbê Alberione có nói rằng đối với người thánh, khi họ vào thế giới bên kia, những gì họ thấy ở đó không làm họ quá đỗi ngạc nhiên. Có lẽ một trong những lý do điều ấy đã xảy ra là vì họ đã trở nên "thánh thể", hiến thân mình cho Nước Trời trong cuộc sống của họ nhờ đã lãnh nhận Thánh Thể. Chúa Giêsu Phục Sinh đã biến đổi họ trở nên giống Người khi Ngài trở nên một với họ trong hiệp lễ.

Monday, April 25, 2011

Tự mâu thuẫn với chính mình

From In Exile, the last paragraph:

Nicholas Lash, professor of Divinity at Cambridge, once made this comment about our struggle: “ . . . we need do no more than notice the most of our contemporaries still find it ‘obvious’ that atheism is not only possible, but widespread and that, both intellectually and ethically, it has much to commend it. This view might be plausible if being an atheist were a matter of not believing that there exists ‘a person without a body’ who is ‘eternal, free, able to do anything, knows everything’ and is ‘the proper object of human worship and obedience, the creator and sustainer of the universe.’ If, however, by ‘God’ we mean the mystery, announced in Christ, breathing all things out of nothing into peace, then all things have to do with God in every move and fragment of their being, whether they notice this and suppose it to be so or not. Atheism, if it means deciding not to have anything to do with God, is thus self-contradictory and, if successful, self-destructive.”

Nicholas Lash, một giáo sư của Thần Học tại Cambridge, USA, có nói:

“…Chúng ta không cần làm điều gì hơn là nhận xét để thấy phần lớn của những người đang sống với chúng ta vẫn thấy sự việc ‘rõ ràng’ rằng vô thần không chỉ là một điều có thể, nhưng lan rộng, và trong lãnh vực trí tuệ và luân lý, nó có nhiều chứng minh đáng giá. Cách nhìn này (đã) có thể hợp lý nếu vô thần có nghĩa là không tin rằng có hiện hữu “một người mà không có xác” người mà “vĩnh cửu, tự do, có thể làm bất cứ điều gì, biết tất cả mọi sự” và là “một người đáng được loài người thờ phượng, vâng phục, đấng tạo hóa và duy trì vũ trụ.” Tuy nhiên nếu, với từ “Thiên Chúa” chúng ta có ý nói về mầu nhiệm, được công bố bởi Đức Kitô, Đấng thổi hơi ra tất cả mọi sự vật từ không không đem nó vào sự bình an, vì thế tất cả đều liên hệ với Thiên Chúa trong tất cả mọi di chuyển và mấu mảnh của nó, dẫu chúng nó nhận ra điều đó và tin nó là như thế hay không. Vô thần, nếu nó có nghĩa là quyết định để không có sự gì dính dáng đến Thiên Chúa, thì tự mâu thuẫn với chính nó và nếu nó thành công, sẽ tự hủy.”


Saturday, April 23, 2011

Chúng ta trở nên giống Đấng chúng ta thờ

Hôm qua tôi đi tham dự Cuộc Tưởng Niệm Sự Thương Khó và chịu chết của Chúa Giêsu vì là ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Đoán qua những cử chỉ bên ngoài, tôi nhận ra rằng những người ngồi chung quanh tôi tham dự cuộc tưởng niệm với hết cả tâm hồn mình. Họ tôn sùng Chúa Giêsu và họ muốn thờ phượng Người bằng những cử chỉ của thân xác họ. Họ cúi đầu thờ lạy tên Thánh của Chúa; nhà thờ im phăng phắc, quỳ xuống trên sàn đất để tỏ lòng thờ phượng khi bài Tin Mừng đọc đến chỗ Chúa sinh thì. Trời nóng, nhà thờ chật chội, nhưng lòng yêu mến muốn vượt lên khỏi những mệt mỏi của con người xác thịt.

Sự tôn kính Thiên Chúa của các anh chị em tôi trong giờ phụng vụ của cộng đoàn dân Chúa, làm tôi rất cảm động.

Đây là một người đàn ông trí thức, tuổi khoảng trung niên, nhưng anh hạ mình trước mặt Thiên Chúa tối cao. Đây là một thanh niên, cố gắng để thờ phượng Chúa của anh biết rằng mình là thụ tạo. Đây là chị tuổi trung niên, đến thờ lạy Chúa và cầu khẩn Ngài cho gia đình.

Thật vinh dự cho họ biết bao, thật vinh dự cho chúng ta biết bao khi chúng ta thờ phượng Thiên Chúa tối cao. Chúng ta trở nên giống sự chúng ta tôn thờ.

Qua việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta được trở nên giống Ngài: trao ban, tha thứ, khiêm tốn, hiền lành, thánh thiện. Ah, tôi không quá lời. Vì việc đó không xảy ra ngay lập tức, hay ngay cả sau cuối một cuộc đời phụng sự. Nhưng trong cách huyền nhiệm, chúng ta bị thu hút bởi những sự tốt đẹp ấy và nghi ngờ những gì lòe loáng. Và ân huệ của Chúa Giêsu Kitô đã bắt đầu lúc này, Ngài sẽ hoàn tất khi chúng ta cùng chết với Ngài. Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên giống Ngài trong khoảnh khắc nhờ sự phục sinh vinh hiển của Ngài.

Thật vậy, khi thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi “Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (1 Cor. 3,18).

Lời Chúa không thể sai lầm.

Wednesday, April 20, 2011

Thiên Chúa cứu độ thế gian qua một người duy nhất: Đức Giêsu Kitô

"Chúa Giê-su liên kết đức tin về sự phục sinh với bản thân của Người: "Tôi là sự sống lại và là sự sống". Ðức Giê-su sẽ cho những ai tin vào Người, và đã ăn Thịt và uống Máu Người, được sống lại trong ngày sau hết." (GLCG 994)

Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời

Mỗi lần tôi đi rước Mình Máu Thánh Chúa, thân xác này của tôi đang được biến hóa. Tôi đón nhận Chúa Giêsu Phục Sinh vào tâm hồn và thân xác của tôi. Tôi đón nhận sự thánh thiện của Chúa Giêsu Kitô vào không những linh hồn mà thân xác nữa. Mắt tôi không thấy, nhưng thân xác này của tôi đang dần dần được biến đổi thành “thân xác có thần khí”, thần khí của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa của sự sống.

Một phép lạ đang xảy ra trong tôi qua bí tích Thánh Thể. Cũng giống như phép lạ xảy ra trong bí tích Rửa Tội. Thân xác của người được rửa tội, đi vào nước để chết đi. Ra khỏi nước, đón nhận sự tái tạo của Chúa Phục sinh. Con người mới, dấu vết nô lệ tẩy sạch. Một dấu vết mới được ghi khắc trong tâm hồn: đây là con yêu dấu của Ta trong Người Con.

Dân Do-thái trong Kinh Thánh không biết về sự chia rẽ linh hồn và thân xác như chúng ta ngày hôm nay do ảnh hưởng của triết lý Plato. Trong từ ngữ của Kinh Thánh, loài người là một thân xác có hồn. Quẳng đi niềm tin vào sự sống lại trong ngày sau hết trong Chúa Giêsu Kitô, con người chỉ là một loài vật có trí khôn cao hơn. Nếu không có sự phục sinh, chúng ta thật là một súc vật đáng thương. Biết nhiều hơn để tuyệt vọng hơn.

Nhưng Chúa đã phục sinh. Ánh sáng rực rỡ của Ngài chiếu sáng trên gương mặt của chúng ta ngay giữa đời sống vâng lời từ bỏ của thập giá. Vì Chúa đã chiến thắng thần chết, mọi sự của đời sống con người mang ý nghĩa xây dựng Nước Trời không những trong thành công mà nhất là trong thất bại. Thiên Chúa tạo dựng nên muôn loài từ không không. Cứu độ từ cõi chết. Dấu ấn của Ngài là khi loài người bó tay, tuyệt vọng vì mọi người đã thất bại, tình yêu chung thủy của Ngài vẫn ở đó để ra tay. Thiên Chúa Cha đã cứu độ thế gian qua một người duy nhất, Đức Giêsu Kitô. Người vẫn cứu độ thế gian qua sự vâng lời khiêm tốn của tôi tớ khiêm tốn và vâng lời. Dầu chỉ là một người. Sự khiêm tốn vâng lời của bạn theo gương mẫu của Chúa Giêsu có sức đem sự sống đến cho trần gian này.

Đời thánh thiện: dễ như đếm 1 2 3

Sau đây là bài giảng của ĐGH Bênêđictô có nói trong buổi tiếp kiến chung mỗi thứ Tư ngày 13 tháng 4 về ơn gọi sống đời thánh thiện của mỗi người.

Linh hồn thánh thiện là gì? Công Đồng Vatican II đã định rõ rằng thánh thiện không gì hơn là sống bác ái hết sức mình…

Có lẽ ngôn ngữ này cùa Công Đồng Vatican II hơi nghiêm trọng. Có lẽ chúng ta nên nói điều này cách đơn giản hơn. Điều gì là cốt yếu nhất?

  1. Điều cốt yêu là không một ngày Chúa Nhật nào bị bỏ qua để chúng ta được gặp Chúa Kitô Phục Sinh trong Thánh Thể. Đây không phải là gánh nặng nhưng là ánh sáng cho cả tuần.
  2. Không bao giờ bắt đầu một ngày hoặc kết thúc một ngày mà không ít nhất có một giây phút ngắn ngủi để gặp gỡ Chúa.
  3. Và trong cuộc hành trình của đời sống, bước theo “những dấu đường” mà Thiên Chúa đã truyền đạt cho chúng ta trong Mười Điều Răn trong ánh sáng Chúa Kitô; đó đơn giản là định nghĩa của bác ai trong một trường hợp cụ thể. Tôi nghĩ đây là sự giản dị thực sự và sự hùng vĩ của đời sống thánh thiện.

Đây là lý do tại sao thánh Augustinô khi dẫn giải về chương thứ tư của thư thứ nhất của thánh Gioan có thể xác nhận điều thật kinh ngạc: “Dilige et fac quod vis” (Yêu và làm điều bạn muốn). Và ngài tiếp tục: “Nếu bạn phải thinh lặng, hãy thinh lặng vì tình yêu; nếu bạn phải nói, hãy nói vì tình yêu; nếu bạn phải sữa chửa, sữa chửa vì yêu; nếu bạn tha thứ, hãy tha thứ vì yêu; ước gì gốc rễ của tình yêu ở trong bạn, vì từ gốc này không có điều gì ra từ nó mà không tốt” (7, 8: PL 35).

Có lẽ chúng ta nên tự hỏi mình: Chúng ta có thể với cao như thế với những giới hạn và những yếu điểm của chúng ta? Trong năm phụng vụ, Giáo Hội mời chúng ta nhớ dãy các thánh, những người đã sống bác ái cách vẹn toàn, đã sống trong yêu thương và bước theo Chúa Kitô trong đời sống hằng ngày của họ.

… Và tôi cũng muốn cộng vào dãy các thánh này không chỉ những thánh lớn mà tôi yêu mến và biết rõ là “dấu đường”, nhưng cả những thánh giản dị, đó là những người tốt mà tôi thấy trong đời mình, những người sẽ chẳng bao giờ được phong thánh.

…. Tôi muốn mời bạn mở rộng lòng mình cho sự hoạt động của Chúa Thánh Thần, Người biến đổi đời sống chúng ta để chúng ta trở nên những mẫu tranh ghép mảnh của sự thánh thiện mà Thiên Chúa đang tạo dựng trong lịch sử để Khuôn Mặt của Chúa Kitô sẽ chiếu sáng cách rực rỡ. Chúng ta đừng sợ để nhìn trên cao, tới nơi Chúa ngự; chúng ta đừng sợ là Chúa sẽ hỏi quá nhiều nơi chúng ta, nhưng chúng ta hãy để mình được hướng dẫn trong hành động hằng này bằng Lời của Ngài, ngay cả khi chúng ta cảm thấy mình nghèo hèn, không đủ khả năng, tội lỗi: Ngài sẽ là người biến hóa chúng ta theo tình yêu của Ngài.

Tâm hồn trẻ thơ

Để chuẩn bị cho Tuần Thánh và nhất là Tam Nhật Phục Sinh, tôi đọc Giêsu Thành Nadareth, cuốn 2 của ĐGH Bênêdictô XVI. Ở chương 1, điểm ĐGH phân biệt giữa đám đông tung hô Chúa và đám đông của ngày thứ Sáu khi Chúa chịu đóng đanh làm cho tôi cảm thấy phấn khởi.

All three Synoptic Gospels, as well as Saint John, make it very clear that the scene of Messianic homage to Jesus was played out on his entry into the city and that those taking part were not the inhabitants of Jerusalem, but the crowds who accompanied Jesus and entered the Holy City with him.

This point is made most clearly in Matthew’s account through the passage immediately following the Hosanna to Jesus, Son of David: “When he entered Jerusalem, all the city was stirred, saying: Who is this? And the crowds said: This is the prophet Jesus from Nazareth of Galilee” (Mt 21:10-11). The parallel with the story of the wise men from the East is unmistakable. On that occasion, too, the people in the city of Jerusalem knew nothing of the newborn king of the Jews; the news about him caused Jerusalem to be “troubled” (Mt 2:3). Now the people were “quaking”: the word that Matthew uses, eseísthē ( seíō), describes the vibration caused by an earthquake.

People had heard of the prophet from Nazareth, but he did not appear to have any importance for Jerusalem, and the people there did not know him. The crowd that paid homage to Jesus at the gateway to the city was not the same crowd that later demanded his crucifixion....

Matthew’s account has another important text concerning the reception given to Jesus in the Holy City. After the cleansing of the Temple, the children in the Temple repeat the words of homage: “Hosanna to the Son of David!” (21:15). Jesus defends the children’s joyful acclamation against the criticism of “the chief priests and the scribes” by quoting Psalm 8: “Out of the mouths of babies and infants you have brought perfect praise” (v. 2)....

His meaning becomes clear if we recall the story recounted by all three Synoptic evangelists, in which children were brought to Jesus “that he might touch them”. Despite the resistance of the disciples, who wanted to protect him from this imposition, Jesus calls the children to himself, lays his hands on them, and blesses them. He explains this gesture with the words: “Let the children come to me; do not hinder them; for to such belongs the kingdom of God. Truly, I say to you, whoever does not receive the kingdom of God like a child shall not enter it” (Mk 10: 13-16). The children serve Jesus as an example of the littleness before God that is necessary in order to pass through the “eye of a needle”, the image that he used immediately afterward in the story of the rich young man (Mk 10:17-27).

Cả ba Tân Ước Nhất Lãm, cũng như Thánh Gioan, nói rất rõ ràng rằng khung cảnh tôn vinh Đấng Mêsia người ta gán cho Chúa Giêsu xảy ra khi Chúa vào thành và những kẻ tham dự không là dân cư của thành Giêrusalem nhưng là đám đông đã theo Ngài và vào Thành Thánh với Ngài.

Điều này được làm rõ ràng nhất trong Phúc Âm thánh Matthêu, trong đoạn ngay sau sự tôn vinh Chúa Giêsu, Con Vua Đavít: "Khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: 'Ông này là ai vậy?' Dân chúng trả lời : 'Ngôn sứ Giê-su, người Na-da-rét, xứ Ga-li-lê đấy.'" (Mt 21:10-11) Sự song song của câu chuyện này và câu chuyện của các nhà chiêm tinh từ phương Đông thì không thể lầm được. Cũng trong thời điểm ấy, dân chúng trong thành Giêrusalem không biết điều gì về vị vua dân Do-thái mới sinh ra; tin về Ngài gây "bối rối" (Mt 2:3). Và dân chúng "xôn xao": chữ Mátthêu dùng eseísthē ( seíō), diễn tả sự rung động xảy ra bởi động đất.

Người ta đã nghe về vị ngôn sứ từ thành Nadareth, nhưng Ngài dường như không có gì là quan trọng cho thành Giêrusalem và dân cư ở đó không biết Ngài. Đám đông đã tôn vinh Chúa Giêsu nơi cổng vào thành không cùng là một đám đông mà sau đó đòi đóng đanh Ngài.....

Mátthêu có một phần tường thuật quan trọng về sự tiếp đón Chúa Giêsu trong Thành Thánh. Sau việc tẩy sạch Đền Thờ, những đứa trẻ trong Đền Thờ lập lại những lời ca ngợi: "Chúc tụng Con Vua Đavít!" (21:15). Chúa Giêsu bênh vực lời ca ngợi đầy hân hoan của các trẻ khỏi những lời trách móc của "các thượng tế và kinh sư" trích Thánh vịnh 8: "Qua miệng con thơ trẻ nhỏ, Ngài đã làm bật ra tiếng ngợi khen hoàn hảo." (Tv 8,2)

Ý của Chúa Giêsu sẽ rõ ràng nếu chúng ta nhớ lại câu chuyện đã được tường thuật bởi cả ba Tin Mừng Nhất Lãm khi người ta đem các trẻ nhỏ đến để "Ngài đặt tay trên chúng. Bất kể sự kháng cự của các môn đệ khi họ muốn bảo vệ Ngài khỏi sự quấy rầy, Chúa Giêsu gọi các trẻ em đến với Ngài, đặt tay trên chúng, và chúng lành cho các em. Ngài giải nghĩa hành động này với lời này: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào.” (Máccô 10:13-16). Chúa Giêsu dùng các trẻ nhỏ như một ví dụ về sự cần thiết của tâm hồn nhỏ mọn trước Thiên Chúa để có thể đi qua được "lỗ kim", hình ảnh mà Ngài dùng ngay sau câu chuyện của người giàu có trẻ tuổi (Mc 10:17-27).

Đoạn viết này của ĐGH Bênêđictô làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi đã nghe nhiều lần "đám đông hôm nay tung hô Chúa, ngày mai lại đòi đóng đanh Chúa." Câu này gây nên cảm giác thất vọng. Dầu biết rằng thật thế, mỗi lần tôi phạm tội, tôi thất nghĩa, không tin Chúa và làm Chúa đau lòng. Có một tiếng nói nho nhỏ trong trái tim tôi cũng xuất hiện: "Cố gắng mấy tôi cũng sẽ đóng đanh Chúa. Ôi sầu quá!"

ĐGH Bênêđictô cho tôi một cách nhìn khác. Ngay bây giờ, tôi sẽ thoát được sự sầu khổ tâm hồn ấy như các trẻ nhỏ ca ngợi Chúa Giêsu trong Đền Thờ và sẽ không tham dự vào đám đông không biết Chúa và đã kết án Ngài.

Đứng trước mặt Thiên Chúa, tôi là kẻ bé mọn nhưng được thương yêu. Tôi sẽ để Ngài đặt tay trên tôi, chúc lành cho tôi. Tôi thuộc về đám đông đã theo Ngài.